← Truyện người lớn

Nhục Bồ Ðoàn

Trang 3/13 · Trang 3

Hồi 3

Lão đạo sĩ

kén lầm rể phong lưu

Gái đoan trang trao thân chồng phóng đãng

Lại nói

về Bán Dạ Sinh, từ khi chia tay với Cô phong trưởng

lão, thì lẩm nhẩm một mình:

"Thật là

một bậc chân tu! Nhưng mà mình tuổi mới hai mươi,

chẳng khác nào một đóa hoa tươi vừa nở, lại

bảo cạo đầu đi tu chịu khổ, trên đời sao mà

có con người không tình cảm đến thế. Hôm nọ

mình đến, chẳng qua vì lão là một nhà sư nổi

tiếng, mình trong bụng cũng có một số kiến giải

bất đồng, lại muốn học hỏi cái lẽ mầu nhiệm

của đạo Thiền, nào ngờ lão xem mình rất thường.

Ăn nói đã khắc bạc không chịu nổi, lại còn

làm bài kệ chê người không đáng là một bậc

đại trượng phu thân dài vai rộng. Nếu làm

quan, mình dư sức cai tri thiên hạ, quản lý muôn

dân, chẳng lẽ kiếm một người vở mà không

nổi, để lão xài xể như vậy. Nay mình quyết

phải đấu với lão một trận, không gặp người

đẹp thì thôi, nếu gặp thì nhất định không bỏ

lỡ, phải phong lưu một phen, xem món nợ tình này

có ai dám đến đòi không. Chẳng phải kiêu căng,

cho dù là hạng phụ nữ nào đi nữa, nếu có

được một người chồng tài hoa như mình, nhất

định là ai mà dụ dỗ nổi. Mà như thế thì làm

sao có chuyện thất tiết được. Lẽ ra bài kệ

mình phải xé nát rồi đem trả lại cho lão, nhưng

nghĩ lại sau này muốn làm cho lão cứng họng thì

phải có cái gì làm bằng cớ, nên thôi. Mình

giũ đó để xem rồi đây chính lão có biết hối

lỗi hay không".

Nghĩ xong , Sinh

bèn cuộn tờ giấy mà cất vào tay áo. Về đén

nhà, Sinh bèn sai gia nhân đến các nơi mai mối tìm

cho được nguời đẹp nhất thiên hạ. Vốn con

nhà thế phiệt, lại có dung mạo Phan An, tài không

thua Tử Kiến, cho nên tự dắc rằng ai mà không

muốn có người rể như mình, có nữ nhân nào

không muốn có người chồng như mình.

Thế là hằng

ngày khối nhà bắn tiếng cầu thân. Con nhà nghèo

thì đến cho chàng xem mắt từ đầu đến chân,

con nhà giàu thì vì thể diện thì hẹn gặp nhau nơi

chùa miếu, hoặc ngoài đồng vắng, hai người gặp

nhau, người có tình, kẻ vô ý, vậy mà khi về

lắm cô tương tư thành bệnh.

Riêng chàng không

vừa ý ai cả. Có một bà mối nói với Sinh:

"Xem chừng,

chắc không có cô nào xứng với cậu. Riêng

có tiểu thư con gái của Thiết Phi đạo nhân, tên

Quý Hương, đẹp người đẹp nết may ra hợp với

cậu thôi. Có điều, phụ thân của cô tính tình

cổ quái, chắc không chịu để cậu xem mắt, mà

cậu thì lại đòi xem mặt trước cho được, khó

quá khó quá".

Bán Dạ Sinh nói:

"Tại sao gọi

ông ấy là Thiết Phi đạo nhân? Làm sao biết cô

ấy đẹp? Tại sao không chịu cho xem mắt?"

Bà mai nói:

"Ông lão ấy

là một vị túc nho, cả huyện đều biết tiếng.

Tính ông ấ rất lạ lùng kỳ quặ. Nhà dư ruộng

đất nên không thèm giao dịch vói ai, đời không

có lấy một nguời bạn, chỉ một mình đọc sách,

bất cứ ai đdến xin làm quen cũng không tiếp.

Một hôm có người khách lạ, vì mộ tiếng nên

không quản đường xá xa xôi lặn lội đến thăm.

Khach gõ cửa thật lâu, nhưng ông vẫn không ra

mở, cũng không thèm lên tiếng. Khách đành đi,

để lại một bài thọ trên cửa. Thơ có hai câu:

Đản tri cao sĩ

bồng vi hộ

Thùy liệu tiên

sinh thiết tác phi

Có nghĩa:

Những tưởng

cổng nhà cao sĩ làm bằng cỏ bồng

Ai ngờ chờ mải

chỉ thấy cánh cửa làm bằng sắt

Về sau, ông lão

có dịp đọc câu thơ, rất lấy làm thích và nói:

"Hai chữ

Thiết Phi, tức cử sắt, nghe nửa lạ nửa quen,

mà không sai"

Ông bèn chọn

làm biệt hiệu, tự gọi là Thiết Phi dạo nhân.

Ông không co1

con trai, chỉ sinh được một gái như hoa, như ngọc.

Bọn tôi làm mai, từng gặp hàng ngàn, hàng vạn

cô gái nhưng chưa từng thấy cô nào sánh nổi.

Lại được cha dạy dỗ, không có loại thi từ

ca phú nào mà cô không làm được. cô còn

là một tiểu thư khuê môn bất xuất, hội hè

đình đám không hề lui tới, tuổi đã mười

sáu rồi mà chưa từng đi ra ngoài, loại tam cô

lục bà như ni cô sư bà... có bao giờ bén mảng

tới nhà cô được.

Riêng có một hôm, khi tôi đi ngang qua nhà, ông

lão đứng trước cửa gọi:

"Có phải

bà là bà mối đấy không?"

Tôi đáp:

"Thưa chính

tôi đây"

Họ mới đưa

tôi vào nhà. Ông lão chỉ cô gái, nói:

"Dây là con gái của lão, lão muốn tìm một

chàng rể tướng mạo dễ coi, lại biết hiếu

thuận cha mẹ, bà để ý kiếm dùm lão một người."

Tôi mới nhắc

đến cậu, thì ông ấy nói:

"Già này

có nghe danh của cậu ấy, nhưng không rõ đức

hạnh ra sao"

Tôi nói:

"Cậu ấy

tuy tuổi thiếu niên nhưng tài lão thành, tiếng

đồn không ngoa. Duy có một điều là cậu ấy

muốn thấy mặt người rồi mới nộp sính lễ.

Như tiểu thư đây tài mạo song toàn chắc vừa

ý cậu, nhưng không rõ tôn ông có cho phép cậu

ấy đến thăm không"

Ông lão nghe

xong sầm nét mặt nói:

"Ăn nói hồ

đồ. Chỉ có người Dương châu nuôi ngựa gầy

mới phải cho người ta xem trước, chứ con gái

nhà ta đời nào lại cho trai đến xem mặt."

Nghe ông lão nói

vậy, tôi không biết nói gì thêm nên rút lui,

bởi vậy e rằng việc này khó thành.

Bán Dạ Sinh suy

nghĩ rồi nhủ lòng:

"Như ta hôm

nay, trên khôngcòn cha mẹ, dưới không có anh

em, một thân một mình, mai kia cưới vợ, biết

nhờ ai trông trước trông sau, nhất là những

lúc vắng nhà vì phải đi học xa hoặc ra làm

quan. Ông cụ đây tâm tính như thế, phép tề

gia như thế nào, không cần nói cũng rõ. Mình

mà vào làm rể nhà này thì việc nhà việc cửa

đã có cha vợ, đi đâu cũng khỏi lo gì cả,

thật càng hay chứ sao"

Rồi tuy không

nén được vui mừng, chàng cứ nằng nặc đòi

được dàn xếp để được thoáng thấy tư dung

hay nghe qua tiếng nói cuả nàng, vì vợ con là

chuyện một đời. Bà mối mới bảo:

"Sao cậu không

đi tìm thầy đồng xem quẻ? Nhân duyên tốt thì

cậu cứ gọi Lưu bà này xuc?tiến mối manh, tiện

lợi đôi bề".

Chàng nghe lời,

hôm sau lại thầy đồng nổi tiếng trong vùng, khấn

khứa tên tuổi đôi đàng, xóc quẻ thì đươc?

quẻ dạy:

Không còn hồ

nghi

Nữ nhân quý

báu

Cẩn thận canh

chừng

Không cho ruồi

phạm

Sinh đọc xong,

nhủ rằng vợ chưa cưới chắc hẳn là đẹp, nhưng

còn muốn được rõ hơn, mới xin xăm thêm một

quẻ, quẻ thứ hai ra rằng:

Lấy vợ đoan

trang

Chồng phải kính

lễ

Khóa chặt cửa

nhà

Ruồi vô không

lọt

Chàng bằng lòng

lắm, mới cho gọi mụ mối đi liệu việc hôn nhân.

Thiết phi đạo nhân ban đầu còn từ chối, sau

mụ mối nói mãi, rồi cũng thuận gã, lại còn

viện lẽ nhà neo người, bắt Sinh ở rể.

Lại nói về

dung mạo của quý hương, hôn lễ xong xuôi, tấm

mạng che mặt tân nương đêm động phòng một

khi đã tháo, quả thật dung nhan hoa nhường nguyệt

thẹn, trên đời có một không hai, còn hơn lời

mụ mối mô tả nhiều, hẳn nhiên là vậy

Duy một điều,

tính tình nết na có thừa mà lẳng lơ tình tứ

lại không đủ nên đôi phần không được hạp

ý chồng. Ấy chẳng qua vì thường ngày ở nhà

được cha mẹ dạy dỗ nghiêm túc, tai không nghe

dâm thanh, mắt không nhìn tà sắc, sách đọc nếu

không là Liệt nữ truyện thì cũng là Hiếu nữ

kinh. Mà những điều này thì trái lại với tâm

sự của Bán Dạ Sinh , cho nên Sinh đã đặt cho

nàng hỗn danh Nữ đạo học, bởi vì từ ngôn

ngữ dến cử chỉ đều giống hệt tác phong của

cha.

Nghe ai nói một câu cợt

nhả là nàng đỏ mặt, lập tức bỏ đi chổ khác.

Bán Dạ Sinh đôi

phen đòi hoan lạc vơi nàng lúc ban ngày để đưọc

ngắm xem chổ kín nhưng nàng xấu hổ, quyết liệt

từ chối. Đôi dịp định kéo vợ lại lột bỏ

xiêm y thì nàng la hét inh ỏi như bị cưỡng dâm

vậy.

Ban đêm nàng

ngoan ngoãn trong bổn phận vợ chồng, có điều

trông nét mặt không vui, không biết sao, chỉ thấy

nhạt nhẽo mà không thấy gì hào hứng. Lúc ân

ái với nàng, Sinh chỉ vừa vừa phải phải mà

thôi,vì nàng không muốn chồng bày vẽ nọ kia.

Muốn gần gụi theo lối "cách tường thủ hỏa"

(cách vách lấy lửa), tức ôm hậu bộ), thì nàng

cho là điều nhơ nhuốc, không hợp tác. Muốn xáp

trận theo lối "đảo kiêu lập chúc" (chúi

ngọn nến xuống, tức trồng chuối), thì nàng sợ

hãi như lỗi đạo phu thê, phải khó nhọc lắm mới

gác được chân nàng lên vai. Còn khi khoái cảm

đến tột cùng, có kêu nàng mấy tiếng em em, mình

mình, nàng cũng làm ngơ không đáp

Bán Dạ Sinh rất

đỗi khổ tâm, nghĩ thầm trong bụng:

"Tiếc thay

một tuyệt thế giai nhân, mà không có một chút

lơi lả. Nàng chẳng khác một khúc gỗ, một pho

tượng, nằm bên cạnh mình, có khoái lạc gì dâu,

nhưng biết làm sao đây. Thôi thì từ từ uốn

nắn, may ra có thay đổi được chăng".

Bèn ghé hiệu

sách mua một quyển Xuân cung trình bày rất tinh

xảo ba mươi sáu tư thế nam nử hợp hoan. Quyển

này do học sĩ bản triều làTriệu Tử Ngang soạn

gồm ba mươi sáu bài thơ dùng ca tụng lạc thú

ái ân. Sinh đem về phòng để cùng đọc với

nàng, thâm ý là để nàng thấy trai gái giao

hoan với nhau không phải đơn giản chỉ là một

lối, trái lại thiên biến vạn hóa vô cùng,

khiến cho lạc thú phòng the thêm lên nhiều vẻ,

rỏ ràng là những trò nọ kiểu kia giữa nam nữ

bất lâu không phải do Sinh tự bày ra, người xưa

cũng đã làm rồi, sách vở thời sau ghi lại

là để làm chứng đấy thôi.

Lúc mới cầm

sách, Quý Huơng không biết bên trong nói gì, nghĩ

bụng nếu không phải nói về núi sông thì chắc

phải nói về hoa cỏ.

Nhưng khi giở

sách ra xem thì lại thấy ở hai trang đầu có đề

bốn chữ đại tự Hán cung di chiếu (hình ảnh

còn lưu lại trong cung điện nhà Hán). Nàng nghĩ

trong cung điện nhà Hán có rất nhiều hiền phi

thục viện, chắc đây là di ảnh của các bà ấy,

nên tò mò lật xem. Chừng lật qua trang ba thì

thấy một ngươi đàn ông ôm một người đàn

bà, cả hai đều trần truồng như nhộng, giao tình

bên một hòn non bộ. Lập tức nàng đỏ mặt tía

tai, nổi giận mà rằng:

"Loại cách

bậy bạ này lấy ở đâu về? Sao lại để ở

đây làm ô uế phòng ta? Mau gọi a hoàn đem đi

đốt".

Bán Dạ Sinh cản

lại, nói:

"Đồ cổ dấy,

giá trăm lượng vàng. Anh mượn của bạn về

xem. Nếu em có trăm lượng vàng để thường

cho người ta, thì hãy đốt; nếu không, em nên

để đó cho anh xem chơi vài hôm, rồi đem trả

cho người ta"

Quý Hương thưa:

"Xem danh thư

pháp họa để bồi dưỡng tính tình, chứ loại

sách nhảm nhí này đọc có ích gì?"

Bán Dạ Sinh nói:

"Nếu là

truyện sằng bậy, thì họa công vẽ lại để làm

gì và người sưu tầm cũng không dại gì bỏ ra

một số tiền lớn để mua về. Phải nói chỉ vì

từ khi khai thiên lập địa đến giờ, dây là

việc làm đứng đắn nhất. Cho nên văn nhân học

sĩ dùng màu sắc để vẽ dùng lụa là để thêu,

hoặc bày nơi hàng sách, hoặc giữ chốn kho tàng,

để người sau biết mà bắt chước, nếu không

lẽ âm dương giao cảm dần dần sẽ bị mai một,

đến nỗi sẽ xảy ra cảnh chồng bỏ vợ, vợ oán

chồng, nhân gian tuyệt đường sinh con đẻ cháu.

Hôm nay anh mượn về, không nhũng để chính anh

xem, mà còn muốn cho em đọc để hiểu lẽ đời,

rồi mới thụ thai sinh con đẻ cái. Có như vậy

sẽ hết bị trói buộc bởi quan niệm đạo đức,

mà tình vợ chồng sau này còn đơm bông kết

trái nữa. Sao em tỏ vẻ muộn phiền?"

Quý Hương bảo:

"Em không

cho đây là việc đứng đắn. Sao xưa cổ nhân

không bày ra phép tắc dạy người ân ái công

khai giữa ban ngày, mà lại lén lút chờ canh

khuya thanh vắng trong phòng tối tăm chật chội,

khác nào kẻ trộm. Xem thế đủ rõ là không

phải chút nào".

Bán Dạ Sinh đáp:

"Nàng nói

vậy cũng có lý. Nhưng toàn do lỗi từ thân

phụ, bởi hồi nhỏ cứ nhốt nàng trong nhà, mặt

trời không thấy, không hề nghe chuyện trăng hoa,

đầu óc hẹp hòi, kiến văn ít ỏi, nào có biết

đời là gì. Đời thì chỉ có anh đây, giữa

bọn đàn ông mới hiểu rành chuyện phong lưu lịch

duyệt mà thôi. Cứ như đàn bà con gái ai cũng

như em cả, nào ai dám nghĩ vợ chồng cũng nên

hợp hoan bạch nhật? Cặp nào hành dâm ban ngày

rồi công bố cho đời biết? Nếu chưa ai hề làm

thế, sao họa công lấy đâu làm căn cứ, vẽ

lại trong sách, tài tình sống động như vầy...

làm ai ngó cũng xao xuyến tâm can?"

Quý Hương nói:

"Vậy chớ

ba má em không phải vợ chồng sao, mà nào có

bao giờ yêu đương ban ngày".

Bán Dạ Sinh nói:

"Xin hỏi làm

sao em biết được là ba má không giao hoan ban ngày?"

Quý Hương nói:

"Nếu có thì

em cũng bắt gặp một lần. Chẳng lẽ em tới muời

sáu tuổi rồi mà không bắt gặp được lần nào

hay sao. đừng nói chi thấy, ngay cả nghe, em cũng

chưa nghe bao giờ".

Bán Dạ Sinh cười

to:

"Thôi đi cô

ơi, việc đó con cái trong nhà không thấy, không

nghe, chứ còn bọn a hoàn, nô tỳ thì có đứa

nào không nghe không thấy. Ba má khi nào giao hoan

thì phải đợi em đi khỏi, rồi khóa trái cửa

lại, chứ em mà biết đươc, lỡ động lòng xuân

rồi sinh dạ băn khoăn, ấm ức trong lòng thì

sao, cho nên ba má phải giấu em. Em không tin cứ

hỏi a hoàn của em mà xem ba má ban ngày có làm

tình hay không."

Quý Hương suy nghĩ một chập, nói:

"Ban ngày ba

má cũng thường đóng cửa ngủ, có lẽ để

làm việc này cũng không biết chừng, sau đó

hai ông bà nhìn nhau có vẻ ngượng ngùng."

Bán Dạ Sinh nói:

"Làm tình

ban ngày thích hơn làm tình ban đêm gấp mưới

lần. Cái thú ở chổ vợ chồng nhìn thấy nhau

mới hào hứng hơn. Riêng có hai loại vợ chồng

không bao giờ yêu nhau ban ngày."

Quý Hương hỏi:

"Hai loại nào

vậy?"

Bán Dạ Sinh nói:

"Loại thứ

nhất, chồng xấu vợ đẹp, loại thứ hai vợ xấu

chồng đẹp"

Quý Hương nói:

"Tại sao hai

loại vợ chồng này không làm tình ban ngày

được?"

Bán Dạ Sinh nói:

"Khi lâm trận,

thì cả hai vợ chồng phải thương yêu nhau, tinh

thần huyết mạch phải giao hợp với nhau mới thích.

Nếu người vợ da dẻ trắng phau, nỏn nà như một

viên ngọc từng giũa mài, thì người chồng cởi

xong quần áo ôm vợ vào lòng, vừa ân ái vừa

ngắm nhìn, tự nhiên sẽ cảm thấy cực kỳ khoái

lạc, hạ bộ bất giác sẽ cứng lên và to ra.

Nhưng nếu người đàn ông xấu như ma, thịt vừa

den vừa thô, mặc quần áo để che lấp, chứ đã

cởi rồi thì cái xấu xí sẽ lộ hết ra ngoài,

không còn cách nào che giấu được. Đặt cái

xấu xí bên cạnh cái mỷ miều, thì làm sao người

đẹp không chán ghét mà buột miệng chê trách

thành lời. Thế là cái vật cứng kia sẽ mềm

đi, cái vật to kia sẽ thun lại, không biết đến

bao giờ mới hành sự lại được, thử hỏi

còn khoái lạc ở đâu. Thành ra đành làm tình

ban đêm là hơn, vì còn che dấu được. Đó la

trường hợp vợ đẹp chồng xấu. Còn trường

hợp vợ xấu chồng đẹp cũng vậy, không cần

phải nói thêm làm gì.

Riêng vợ chồng

mình thì khác: em trắng, anh cũng trắng, em hồng

anh cũng hồng, em nõn nà anh cũng nõn nà, nếu

mình không hành lạc ban ngày, không cùng khoe da

thịt với nhau mà cứ chui vào chăn mền để tìm

khoái cảm, há không phải là mai một cả một

đời, có khác gì những cặp vợ chồng xấu xí.

Em không tin, mình cứ thử xem, so cái thú vị với

lúc làm tình ban đêm ra sao."

Quý Hương nghe

đến đây, yên lặng nghẫm nghĩ, mặt tuy bẽn lẽn

mà lòng đã xiêu, má ửng hồng, mắt long lanh.

Bán Dạ Sinh nghĩ

thầm:

"Dục tình

đã dậy, còn đợi chi chưa ra tay.

Có điều nàng

chớm động tình, sóng tình chưa dậy, nếu vồ vập

ngay thì có khác gì kẻ đói gặp thức ăn, cứ

chụp nuốt, không kịp nhâm nhi, rốt cuộc nào biết

thơm ngon là gì. phải làm cho nàng thành quýnh

quáng, dâm tình tột độ, chừng đó hãy gầy

cuộc mây mưa".

Sinh bèn ngồi lên ghế bành,

kéo nàng vào lòng lật từng bức họa trong

quyển Xuân cung cùng xem với nàng. Phần trìngh

bày có khác với loại sách cùng loại. Trong mỗi

bức họa, nử trang trên vẽ cảnh xuân tình, nửa

trang dưới là lời bạt, mấy câu đều giải thích

sự việc, mấy câu sau ca tụng tài nghệ của người

vẽ, tất cả đều là bút phê của các bậc

danh nhân.

Bán Dạ Sinh dặn

nàng tưởng tượng như đang ở trong cuộc, thấm

nhuần tinh thần từng bức họa để sau này bắt

chước cho khéo. Sinh vừa xem vừa đọc cho nàng

nghe.

Bức thứ nhất

vẽ thế Túng điệp cầm phong (mặc bướm tìm hương).

Lời bạt ghi: người nữ ngồi bên hòn non bộ,

hai chân bẹt ra, người nam đưa ngọc hành vào âm

cung, luồn bên này lách bên kia nhu bướm tìm nhị

hoa. Bấy giờ:vì nam, nữ mới nhập cuộc chưa đến

hồi cụp lạc, nên mắt họ giương to, trông không

khác lúc bình thường cho lắm.

Bức thứ hai

vẽ thế giáo phong nhưỡng mật (ong khôn lo hút

mật), lời bạt ghi: Người nữ nằm ngữa trên

chăn bông, tay nắm ch8ạt hai vế đưa lên cao để

đón ngọc hành, người nam do d0ó, thấy rõ nhị

hoa ở chỗ nào, tùy tiện tấn công. Bấy giờ

vẽ mặt người nữ khao khát, còn người nam thì

mặt mày gay cấn, khiến người xem phải hồi hộp,

lo âu giùm, rõ thật tạo hóa trớ trêu.

Bức thứ ba vẽ

thế Mê điểu quy lâm (chim lạc bay về rừng). Lời

bạt ghi: người nữ nằm trên giường, hai chân

giơ lên, hai tay đỡ vế của người nam, người

này từ trên ấn thẳng xuống, nom như chim kia đi

lạc đã lâu, thấy rừng cũ lao thẳng về. Nam nữ

thần khí bừng bừng nét vẽ kỳ diệu chẳng khác

nào bút bay mực múa vậy.

Bức thứ tư

có tên Ngạ mã bôn tào (ngự đói tìm máng

cỏ). Lời bạt ghi: Người nữ nằm trên giường,

hai tay ôm quàng lấy người nam, trông như bị buộc

bào nhau, hai chân gác lên vai của người nam.

Ngọc hành mất hút vào trong âm cung, khít khao

không hở một chỗ nào như ngựa đói vục đầu

ăn cỏ trong máng vậy. Bấy giờ cả hai như lả

người đi, mắt định nhắm mà vẫn muốn trông,

lưỡi định thụt vào mà vẫn thè ra. Nét vẽ

rất thần tình.

Bức thứ năm

vẽ thế Song long đấu luyện (hai rồng mệt đấu

nhau). Lời bạt ghi: Đầu người nữ kê bên gối,

hai tay buông xuôi mềm mại như bông, đầu người

nam thì dựa bên tai người nữ, toàn thân buông

xuôi cũng mềm mại như bông. Bấy giờ hai người

đã thỏa, hồn thả theo mộng đẹp, lặng lẽ sau

cơn kích động mạnh, tuy nhiên hai chân của người

nữ vẫn còn gác trên hai vai của người nam chưa

hạ xuống, thần thái ẩn vẻ sinh động, nếu không

có khác gì hai tử thi, người xem khoái cảm đến

cực độ, tưởng chừng mình cũng đang cùng họ

"chung quan chung huyệt" vậy.

Xem đến đây,

Quý Hương bất giác không dằn được nỗi hứng

tình, Bán Dạ Sinh định lật sang trang khác. Sinh đang

định lật sang trang khác xem tiếp với nàng thì

nàng đẩy quyển sách ra rồi đứng dậy, uể oải

nói:

"Sách hay

ở chỗ nào, làm người ta thấy khó chịu. Anh

xem một mình đi, em đi ngủ đây".

Bán Dạ Sinh ôm nàng vào

lòng cười nói:

"Em cưng,

trang sau còn hay lắm, xem xong mình sẽ đi ngủ".

Quý Hương nói:

"Chẳng lẽ

ngày mai không còn thì giờ để xem hay sao, làm

gì nhất định phải xem cho hết ngày hôm nay."

Bán Dạ Sinh biết

nàng đã động lòng, bèn kề miệng lại mà hôn.

Cả tháng nay, vợ chồng tuy đã ăn ở với

nhau, nhưng Bán Dạ Sinh nào biết lưỡi vợ dài

ngắn, vì mỗi lần Sinh định hôn, miệng nàng dều

mím lại. Lần này thì khác, miệng hoa hé nở, lưỡi

nàng còn êm ái giao tiếp với chồng.

Bán Dạ Sinh nói:

"Em cưng, mình

không cần lên giường làm chi, cứ coi ghế này

là hòn non bộ rồi bắt chước theo sách mà làm,

xem sao."

Quý Hương làm

mặt giận, nói:

"Bừa bãi

như vậy há có phải là con người nữa không?"

Bán Dạ Sinh nói:

"Rõ ràng

không phải việc của người, mà là việc của

thần tiên. Anh với em thử làm thần tiên với

nhau một lát nhé."

Nói xong, Sinh

đưa tay lần cởi giải lưng nàng. Quý Huơng tuy

ngoài miệng không chịu nhưng bụng đã ưng. Nàng

chịu gác chân lên vai để mọi sự dễ dàng.

Cởi xong quần

ra, với nhau thấy ướt một khoảng, thì biết nàng

đã rịn dâm thủ trong khi xem tranh. Sinh cũng tháo

quần mình, đặt nàng ngồi trên bụng,dang hai đùi

mà đưa dương cụ vào âm cung, xong xuôi mới cởi

nốt áo phần trên mình vợ. Tại sao không bắt

đầu từ trên xuống, lại cởi quần trước rồi

mới đến áo? Phải là tay sành sỏi như Bán Dạ

Sinh mới làm như thế, vì nếu cởi áo trước,

người nữ mặc dầu trong lòng rất nôn nóng,

nhưng ngoài mặt vẫn còn e thẹn, do đó dễ gặp

kháng cự. Còn khi đại tướng nơi bản doanh đã

bị kềm chế rồi thì các nơi khác muốn làm gì

chả được. Binh pháp gọi đó là Cầm vương đảo

huyệt (đập hang bắt vua).

Quả nhiên Quý

Hương riu ríu để Sinh từ từ lột sạch quần áo.

Bán Dạ Sinh cũng

cỡi hết y trang trên mình, khởi cuộc mây mưa.

Hai chân nàng

dang ra hai bên ghế, dương vật vào trong rồi cứ

thế mà theo bức họa thứ nhất mà thực hành,

hết cạ bên nọ lại cào bên kia. Nàng soải tay

với nắm hai thành ghế, hạ thể nhấp nhô đáp

ứng phu quân, ngẫu nhiên theo đúng bức họa số

hai trong Xuân cung. Bỗng dương cụ chạm đến một

nơi mà nàng bỗng cảm thấy tê nhưng không phải

tê, mê nhưng cũng không biết có phải là mê,

nhột mà như ngứa, chịu không thấu mà bỏ không

đành.

Nàng nói:

"Một chỗ ấy

thôi anh ơi".

Bán Dạ Sinh biết

nhị hoa đã chạm, nên càng ra sức tróc nã

trong cấm địa, dồn hết sức lục công kích một

nới mà thôi. Một cách dìu dặt, ngọc hành dần

dần trổ tài, hết đi từ cạn đến sâu, lại

đi từ chậm đến nhanh, trước sau ra vô tới mấy

trăm lần. Hai tay Quý Hương bất giác ôm ghì lấy

mông Sinh, người nảy lên, nhục thân như ra công

vây hảm chặt tướng địch đang hỗn xược tung

hoành, tình thế gay cấn, thật không khác tình

trạng bức họa đồ số ba. Bán Dạ Sinh cũng lấy

tay o bế hạ thể nàng, nhưng trơn tuột không biết

bám tay vào đâu, vì dâm thủy lêng láng khắp

cả.

Bán Dạ Sinh nghĩ

thầm:

"Cô này đang

đê mê cực độ, lẽ ra còn phải phá ccô ấy

một phen. Nhưng đây là bước đầu, phải để

cô ấy thật no say đã rồi mới áp dụng phép

nuôi vịt."

Sinh bèn nhắc

chân nàng lên vai, hai tay ôm lấy eo thon của nàng

tiếp tục thẳng cánh thọc vào.

Bấy giờ ngọc

hành trơ trẻn và hùng hổ hơn, lấp hết âm

cung không chừa một chỗ trống. Sinh lại thúc đẩ

thêm vài trăm lần nữ. Mắt Quý Huơng trở nên

mông lung đờ đẫn, tóc tai xổ tung, thân thể

lả ra như người buồn ngủ.

Bán Dạ Sinh vuốt

ve nàng, nói:

"Em cưng, anh

biết em sắp tới bờ rồi. Trên ghế này không

tiện, mình lên giường tiếp tục nhé".

Quý Huơng đang

hồi khẩn trương, sợ bỏ lên giường thì không

khỏi ngọc hành rút ra ngoài mất, hứng thú gián

đoạn, huống chi lúc bấy giờ chân tay rũ liệt

không thể nhấc lên được, có muốn lên giường

cũng không tự đi dược. Vì vậy nghe Sinh đề

nghị, nàng nhắm mắt lắc đầu.

Bán Dạ Sinh nói:

"Em cưng, em

không đi nổi phải không?"

Quý Hương gật.

Bán Dạ Sinh nói:

"Anh không nỡ

để em đi. Anh bồng em lên nhé"

Sinh bèn ôm chặt

lấy tấm lưng thon, miệng nút chặt lưỡi nàng,

dương cụ vẫn khắn khít nơi xuân cung hkông rời,

ẵm nàng lên dập dình đi theo kiểu "tẩu mả

khán hoa" (cỡi ngựa xem hoa). Đến giường,

Sinh đặt Quý Hương xuống, lấy gối chêm dưới

eo nàng, rồi cong chân nàng lại, thúc đẩy thêm

vài trăm lần nữa.

Quý Hương bỗng rên lên:

"Anh yêu, em

chịu hết nổi rồi"

Chỉ nói được

bấy nhiêu, rồi nàng ôm chặt Bán Dạ Sinh mà

rên như người s8áp chết.

Bán Dạ Sinh biết

âm tinh đã ra, nên nhắm vô nhị hoa, từ bên tên

nhấn ngọc hành mạng thêm như thể bồi cho nàng

chết luôn. Quý Hương liền hồn siêu phách lạc.

Rồi hai người

ôm nhau lả ra mà ngủ. Hồi lâu Quý Hương cựa

mình, nói:

"Anh yêu, em

mới chết đi sống lại, anh có hay không?"

Bán Dạ Sinh nói:

"Sao anh không

hay. Như thế không gọi là chết, mà là đê mê"

Quý Hương nói:

"Thế nào

là đê mê?"

Bán Dạ Sinh nói:

"Nam có dương

tinh, nữ có âm tinh. Lúc hành lạc, khi khoái cảm

lên đến cực dộ, thì tinh suất. Lúc sắo xuất

tinh, thì từ da thịt đến gân cốt thảy dều tê

cứng, hồn phách mê mẩn, rồi tinh mới xuất.

Như thế là đê mê, như trong bức họa Xuân

cung số năm ban nãy. Em đã xem qua, chẳng lẽ không

nhớ sao?"

Quý Huơng nói:

"Theo anh nói

đê mê xong có thể tỉnh lại, có nghĩa là không

chết, phải không?"

Bán Dạ Sinh nói

Người nam, người nữ mỗi lần làm tình với

nhau có đê mê. trong khi người nam đê mê có

một lần thì người nữ, nếu âm tinh chưa ra vẫn

có thể đê mê mấy chục lần. Đê mê là cực

khoái, chớ có phải là chết đâu."

Quý Hương nói:

"Khoái lạc

như thế, dẫu chất cũng vui, huống chi là không

chết. Như thế này thì từ nay về sau, ngày nào

em cũng đê mê, đêm nào em cũng đê mê".

Bán Dạ Sinh cười

to:

"Em thấy chưa,

anh nói có sai đâu, cuốn Xuân cung này có phải

bửu bối hay không"

Quý Huơng nói:

"Đúng là

bảo vật. Chỉ sợ bạn anh đòi về"

Bán Dạ Sinh nói:

"Nói gạt

em chơi, chứ thật ra sách này của anh mua."

Quý Hương nghe

xong, vui mừng khôn xiết nên bật cười. Ân ái

xong, hai người trở dậy vận y phục rồi cung

nhau tiếp tục xem quyển Xuân cung, đến khi cao hứng,

lại cùng nhau ân ái. Kể từ hôm ấy, hai vợ

chồng trở nên tâm đầu ý hiệp, đường tình

càng thêm khắng khít.

Từ khi xem Xuân cung, Quý

Hương đã vơi lễ giáo, thành môn sinh chăm chỉ

trong trường phong lưu, ngày đêm không quản ngại

thực hành cách thức mới của thú gió trăng

trong sách, dẫu táo bạo khó khăn đến đâu cũng

thực tập cho được, hoặc trồng chuối theo

"đảo điêu lập chúc", ôm mông như

"cách sơn thủ hỏa". Rồi thì ba tất sen

vàng gác lên vai chồng mà ngủ, có muốn hạ

xuống lại không phải dễ.

Rồi dần dần

trong khi ân ái, tiếng động da thịt cọ xát, nào

tháo độ hăng say dâm cuồng giúp cho cuộc mây

mưa thêm phần nồng thắm, tất cả đều không

thiếu. Và để tăng thêm hứng thú, Bán Dạ

Sinh còn dến tiệm sách mua về các loại sách

phong tình, như Tú Tháp dã sữ, như Quân truyện,

như Bà tử truyện, cả thảy một hai chục cuốn

đóng thành bộ, để trên bàn cho nàng xem lúc

nào cũng được, còn sách đã đọc xong trước

kia thì bó lại cất, chỉ e nàng bỏ mới ôn cũ,

mà trở về vẻ đạo mạo như ngày trước. Tình

vợ chồng thắm thiết, hòa hợp, vui sướng hơn

bao giờ, nay thì dù có vẽ ba trăm sáu mươi bức

xuân cung cũng không diễn tả cho hết được

Có thể nói,

Bán Dạ Sinh đến đây là khoan khoái tột độ

rồi, riêng có một diều là trong hki vợ chồng

hết sức hài hòa, thì giữa ông nhạc và chàng

rể có chút gì không hợp. Nguyên nhân là Thiết

phi đạo nhân vốn cố chấp, thích chất phác ghét

phồn hoa, không ưa chuyện trăng hoa, chỉ mến bàn

về vấn đề đạo lý.

Từ khi Bán Dạ

Sinh vào ở rể, trông thấy Sinh ăn mặc diêm dúa,

bảnh bao, đạo nhân cảm thấy buồn rầu, đâm ra

hối hận, than thầm:

"Gã này chỉ

có cái mã mà không có cái ruột, chắc không

nên người, con gái ta còn biết nương tựa vào

đâu. Nhưng sính lễ đã nhận, duyên châu trần

đã kất, không thể thay đổi gí được nữa.

Thôi đành đã lỡ tính theo lỡ, tùy cơ mà răn

đe, dạy dỗ nó nên người đứng đắn".

Vì vậy từ lối

ăn mặc tiếng nói đến việc đi đứng ngồi nằm,

nhất nhất đều để tâm sử trị.

Lời xưa nói

rất đúng "giang sơn dí cải, bỉnh tính nan di",

Bán Dạ Sinh tâm tính trẻ tuổi, lại cha mẹ mất

sớm, chưa từng bị người lớn kềm chế, nân

ai dễ gì bắt bẻ được. Vì vậy có mấy lần

Sinh bất bình cha vợ. Có điều nghĩ đến tình vợ

chồng sợ bị sứt mẻ, Sinh đành nhẫ nhục, nhưng

nhịn mãi rồi cũng tới mức mà thôi.

Sinh Dành dấu

Quý Hương mà, bàn riêng với nhạc phụ:

"Con vốn quê

mùa cục mịch, trên thiếu thầy giỏi, dưới vắng

bạn hiền, do đó học hành không tiến, công

danh chẳng đạt. Nên con muốn xin phép bái biệt

nhạc phụ đi đó đi đây, trước là để mở

rộng kiến văn, sau là tìm thầy chọn bạn học

hành, đọi khoa thi, may ra đỗ đạt hầu xứng với

công ơn nhạc phụ đã chọn con làm rể, ý nhạc

phụ nghĩ sao?"

Thiết phi đạo nhân nói:

"Từ khi con

vào làm rể nhà ta đến nay đã được nữa măm

rồi, nay mới có câu nghe được, chứ mọi khi

toàn lời lẽ của bọn đãng tử. Con chịu đi xa

cầu học là điều rất tốt, sao ta lại không bằng

lòng."

Bán Dạ Sinh nói:

"Cha đã bằng

lòng, nhưng e vợ con lại trách con bội bạc, ăn

ở với nhau chưa được bao lâu mà đã vội đi

xa, chi bằng cha cứ nói đây là ý cha muốn, không

can gì đến con, để con ra đi khỏi trở ngại"

Đạo nhân nó:

"Cũng phải"

Thế là việc

bàn tính đã quyết. Trước mặt con gái, đạo

nhân khuyên rể đi xa cầu học. ra vẻ không chịu,

đạo nhân bèn làm mặt giận, bấy giờ Bán Dạ

Sinh mới chịu vâng lời.

Quý Huơng đang

thời say mê khoái lạc, bỗng nghe nói chồng sắp

ra đi thì chẳng khác nào trẻ con bị dứt sữa,

vô cùng buồn khổ.

Thế là nơi buồng

the, mây mưa dập dồn nối tiếp, cốt để bù trước

những lúc thiếu thốn sau này. Riêng Bán Dạ

Sinh cũng hiểu, rằng trên con đường muôn dặm

lẻ loi, không chắc gì nhất thời tìm được một

giai nhân nào, nên dốc lòng ra sức để thỏa

mản vợ, chẳng khác mình đặt tiệc đãi người,

mà thực sự để mình cùng hưởng.

Qua mấy đêm ân

ái mặn nồng, ai mà không bảo thật là một đôi

vợ chồng keo sơn gắn bó, duy chỉ có người

trong cuộc mới tự biết các tâm sự khác biệt

mà thôi.

Lúc sắp lên

đường, nó lời trấn an, để lại mọi thứ,

chỉ đem theo hai tên gia đồng cũ trước kia.

(Hết Hồi 3 ... Xin xem tiếp

Hồi

4)

Xin các

bạn vui lòng nhấp chuột vào các bản quảng cáo để

ủng hộ Cõi Thiên Thai!(Vietnamese

Stories)